Warning: include(/home2/joethle/public_html/mehangcuugiup/media/mailto/header.php) [function.include]: failed to open stream: No such file or directory in /home2/joethle/public_html/mehangcuugiup/libraries/import.php on line 2

Warning: include(/home2/joethle/public_html/mehangcuugiup/media/mailto/header.php) [function.include]: failed to open stream: No such file or directory in /home2/joethle/public_html/mehangcuugiup/libraries/import.php on line 2

Warning: include() [function.include]: Failed opening '/home2/joethle/public_html/mehangcuugiup/media/mailto/header.php' for inclusion (include_path='.:/opt/php52/lib/php') in /home2/joethle/public_html/mehangcuugiup/libraries/import.php on line 2

Warning: session_start() [function.session-start]: Cannot send session cookie - headers already sent by (output started at /home2/joethle/public_html/mehangcuugiup/libraries/import.php:2) in /home2/joethle/public_html/mehangcuugiup/libraries/joomla/session/session.php on line 537

Warning: session_start() [function.session-start]: Cannot send session cache limiter - headers already sent (output started at /home2/joethle/public_html/mehangcuugiup/libraries/import.php:2) in /home2/joethle/public_html/mehangcuugiup/libraries/joomla/session/session.php on line 537

Warning: Cannot modify header information - headers already sent by (output started at /home2/joethle/public_html/mehangcuugiup/libraries/import.php:2) in /home2/joethle/public_html/mehangcuugiup/plugins/system/jat3/jat3/core/parameter.php on line 107
Ơn bền đỗ

Ơn bền đỗ

Ơn bền đỗ

12 03 30 vocations1(21 tháng 4: ngày thế giới cầu cho Ơn Thiên Triệu)

Cũng xin nhắc lại, hằng tuần, trong lễ chiều thứ bảy và Chúa Nhật, ở giáo xứ tôi, bên Mỹ này, cha phát động và kêu gọi mọi người ghi tên "nhận Chén Thánh" đem về nhà, cầu nguyện cho ơn thiên triệu.  Hồi xưa, khi tôi còn nhỏ, thời đó tuy người ta học tiếng Nho nhiều, nhưng tôi chưa hề nghe nói tới tiếng "ơn thiên triệu", có vẻ rất ư là Nho, mà chỉ thường nghe nói tới ơn gọi hay ơn kêu gọi.  Và cứ đến khoảng tháng 10 có lễ "khánh nhật truyền giáo" thì trong nhà thờ thường hay hát

"Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt"

Câu này, về mặt nào đó, rất là có ý nghĩa, ở xứ tôi.  Ai trồng lúa sớm thì "có lúa" về khoảng tháng 7, tháng 8.  Còn bình thường, tới tháng 9, tháng 10 hay trễ thì tháng 11, lúa ngoài ruộng đã chín.  Ai đi ruộng lúc này sẽ thấy một dãy màu vàng của màu lúa chín, sẽ ngửi thấy mùi thơm đặc biệt của mùi lúa chín.  Lúc đó, lúa đã chín đầy đồng, người ta lo gặt lúa đem về.  Những ngày này mà hát bài về "lúa chín" thì người dân xứ tôi, và cả bọn trẻ tụi tôi nữa, rất hiểu và rất là mong đợi, vì đến những ngày gần cuối năm mà "không có lúa chín" thì ... kể như đói.

Còn thợ gặt thì quả thật đây là vấn đề không có mảy may dính líu với đám trẻ tụi tôi.  Học về nghề nông thì nào là người gieo mạ, thợ cấy, thợ gặt đều có nghe biết qua, nhưng thợ nào cũng không thể có tụi tôi.  Cứ ngày hai buổi lo đi học, ngày nghỉ thì lo rong chơi thì chuyện gặt hái là chuyện xa lạ, chuyện của người khác.  Vả lại, ở xứ mình thời đó, có ai mà đi mướn đám thợ "gặt trẻ" bao giờ đâu, làm thì không thấy nhưng "tụi nó" mà tới thì chỉ có phá, chuyện gặt hái không được đặt tới thì chuyện "thiếu thợ gặt" là gì, làm sao mà biết được?

 

***

Rồi theo thời gian, các bài học "sách phần" ở trường và các bài dạy của cha trước giờ Phép Lành hằng tuần, tôi được biết: ơn gọi, hay ơn kêu gọi hay ơn thiên triệu là ơn được kêu gọi để đi tu làm linh mục hay tu sĩ.  Chuyện này lại làm thắc mắc nữa. Khi nói đến xứ Bà Rịa này của tôi, nhiều người đã biết đến cái xứ có khá nhiều linh mục và tu sĩ này, vậy mà tôi có thấy những vị này đi tu hồi nào đâu mà nói đến ơn gọi! 

Năm đó, 1962, kỷ niệm 100 năm các Thánh Tử Ðạo tại Bà Rịa.  Ngày 7 tháng 1 năm 1862, ngày mà hơn 400 ông bà của tôi đã bị thiêu sống tại nơi mà ngày nay có dựng lên ngôi "Nhà Thờ Mồ", nơi đựng tro cốt của các vị.  Ngày đại lễ, bà con xa quê trở về, bà con những nơi gần tựu đến.  Ði lễ, bà con xứ tôi có người đã lo đếm, đếm coi có bao nhiêu Ðức Cha, bao nhiêu cha, bao nhiêu tu sĩ, bao nhiêu bà phước dì phước.  Ðếm rồi mới phân chia ra: Ðức Cha thì có một là Ðức Cha địa phận Sài Gòn, cha thì chia ra cha khách cha nhà, tu sĩ nam nữ cũng vậy, rồi trầm trồ: 

- Tui tính kỹ rồi đó nha: kể cả cha dòng cha triều, mình có tất cả là 8 cha, thầy dòng vừa Taberd vừa thầy giảng Cái Nhum, mình có 3, mà thầy tám Liễu của họ mình nghe đâu là một trong những thầy lãnh đạo ở dưới Cái Nhum, bà phước trắng Sài Gòn mình có 6, còn dì phước đen vừa Chợ Quán, vừa Thủ Thiêm tưởng ít chớ cũng gần 20 dì.

- Anh không nhớ hồi giảng lễ, cha Vàng có nói mình là con cháu các Thánh Tử Ðạo sao, mà kết quả ngày nay là do hạt giống đã nẩy mầm, giờ sinh ra hoa trái?

Ở cái xứ sở nhỏ bé này có khi nào mà trong một cuộc lễ có quá đông các cha, các thầy, các bà, các dì như vầy đâu.  Thấy các cha, các thầy, các bà phước dì phước đông cũng vui, cuộc lễ trở nên tưng bừng hơn, nhất là khi các vị này là con cháu trong họ đạo!

***

Lễ xong, các cha các thầy các bà các dì đi hết, trở lại dòng, trở lại họ đạo của mình.  Cha sở tính tới chuyện của tụi tôi.  Ngoài việc giảng trong nhà thờ, cha sở họ tôi thời đó nhờ có chiếc xe mobilette, cha đi giáp vòng.  Thăm người này người nọ là một việc, còn việc khác của cha là hễ nhà nào có con trai khoảng 10 tuổi là cha thường thích đến, đến để dụ, dụ đi tu.  Nhiều khi coi được, cha tới thăm hoài, chớ như trường hợp anh Nguyệt, ảnh đi tu làm thầy frère Taberd, còn thằng em "trời đánh", có khi nào cha tới cha dụ nó đâu, và rồi sau đó nó đánh thầy rồi bỏ xứ trốn biệt thì dụ nó đi tu cái nổi gì.

Ði lính thì khỏi dụ, tới tuổi là phải đi, bắt buộc phải đi, nếu không muốn đi thì trốn, trốn lên rừng.  Còn đi tu, lạ quá!  Ði tu là đi đâu?  Sống với ai?  Cha tới nhà.  Cha kể chuyện.  Cha cho coi hình hồi cha đi tu bên Rôma.  Cha cho coi hình phòng học, lớp học.  Thứ thứ gì cũng không giống bên xứ mình.  Thứ gì cũng thấy ngộ, thấy lạ.  Không biết có phải là do những lời dụ dỗ của cha sở đó không mà ở họ đạo tôi, cũng không nhớ rõ là từ hồi nào, bắt đầu xuất hiện một thành phần mới trong họ đạo. Bên cạnh các hội Phạt Tạ, Hội Con Ðức Mẹ, Hội Các Mẹ Công Giáo, quới chức, đồng nhi nam nữ, bà con giáo dân, mỗi lần đi kiệu, ngay sau bàn kiệu, sau cha là các chủng sinh, mà người ta gọi là "mấy chú La Tinh".

Thời tôi, cha sở cho sắp riêng hai hàng ghế bên hông bàn thờ Thánh Giuse.  Tám anh em tới giờ lễ hay giờ chầu đều quỳ trên "cao" đó.  Xưa rày, mỗi lần rước lễ, các bà phước xếp hàng đi lên rước lễ trước, bà nhứt, bà nhì, rồi hết các bà mới tới bà con giáo dân.  Nhưng thời đó, lúc bãi trường, tới hồi rước lễ, 8 "con quạ đen(*)" đi từ bên hông bàn thờ Thánh Giuse đi vòng xuống, đi vòng vô dòng giữa, rồi đi lên rước lễ trước, rồi mới tới các bà phước!

Năm đó, không, phải nói là những năm đó, anh em chúng tôi có đúng, chẵn 8 người, chia ra quỳ ở hai bàn quỳ.  Lễ sáng xong, anh em tôi thường hay nán lại phía sau phòng Thánh để nói chuyện này chuyện khác, có mấy em nhỏ hơn bu theo để nghe chuyện của "mấy anh", rồi cười phụ họa, rồi cũng có lúc mấy em tham gia vào câu chuyện. Từ trong đám em nhỏ tham gia các cuộc vui này, họ đạo tôi đã có thêm được hai ông cha và một đức cha.  Xong, ai về nhà nấy lo ăn sáng, rồi lại hẹn nhau để ... đi, đi vòng quanh tỉnh, thăm bà con. 

Thời đó, học từng tam cá nguyệt, nghĩa là học 3 tháng xong trở về nghỉ 1 tháng.  Ba tháng ở "nhà trường" coi lâu vậy mà cũng mau, mới ra đi đó rồi lại thấy trở về. Mới vừa về nghỉ thì thấy 4 tuần còn dài.  Chừng được ba tuần rồi thì thấy "hè sao thấm thoát"!  Một tháng nghỉ ở nhà với gia đình coi vậy mà rất mau, vừa mới thấy về đó rồi lại lo ra đi.  Việc chúng tôi đi, chúng tôi ở vậy mà cũng có chuyện đổi thay.  Trước ngày đi tựu trường của đầu năm học, nghĩa là bắt đầu đệ nhất tam cá nguyệt, đó là số người của năm mới. Năm đó số người là 8.  Hè năm đó về 1, số người còn lại là 7.  Ðầu năm học sau, số người lại tăng trở lại 8.  Cha Sở tỏ ra vui mừng lắm.  Cứ mỗi lần về hè, bà con lại có dịp "đếm" lại.  Rồi năm đó, cha phải tăng thêm một bàn quỳ cho đủ chỗ.  13 người đâu có thể quỳ ở hai bàn quỳ.  13 mà chia cho 3, có một bàn quỳ có tới 5 người, để cho chẳn, tôi đã nhường chỗ lại cho đủ 12 người quỳ ở 3 bàn, mỗi bàn 4 người!

***

Ở cái xứ chỉ có một cái nhà thờ này, muốn còn giữ đạo thì phải đi nhà thờ, nhà thờ này!  Ðầu trên xóm dưới, không chú cũng bác, không dì thì cũng cô, bà con gần hết.  Nhiều người tiếc rẻ, hỏi:

- Sao về chi vậy con?

Nếu còn tiếp tục cuộc hành trình đã chọn, đường hẳn còn dài, nhưng trước những câu hỏi đầy tiếc thương này, phải "giảng" như cha giảng trong nhà thờ:

- Chúa kêu thì nhiều nhưng Chúa chọn thì ít!

Nói để xoa dịu người tiếc thương, nói để tự an ủi lòng mình!

Kiểm điểm lại: 8 người anh em của "ngày đầu", một người đã quyết không rời nhà tu, chết vì đau tại Chủng Viện, 2 anh em đã đi được tới cùng, giờ đang sống trong nhà hưu dưỡng.  "Anh em tôi", ai nấy đã già rồi, giờ nói lại là để nhớ lại thôi.  Năm đó, người anh họ trong số 8 người đầu về quê "ăn vinh quy".  Dượng ba tôi, ba anh, gặp tôi nói:

- Chớ nếu con không về, chắc là kỳ này họ mình có vinh quy cho hai cha mới!

Bà sơ Augustine Nguyễn Thị Vui, bà thầy tôi, người đã cưng tôi như con, bà đã ôm tôi khi tôi lên đường đi chủng viện.  Bà đã ôm tôi mỗi lần tôi về nghỉ.  Bà đã ôm tôi sau khi tôi rời chủng viện.  Bà đã nói:

- Thôi!  Chúa đã kêu con mà Chúa không chọn con!

Giờ hiểu ra thì là: cũng như nhiều người, tôi đã có được ơn gọi mà không có được ơn bền đỗ!

***

Thấy "thằng em" có vẻ hiền, ai cũng mến.  Em tham gia dạy học các lớp Giáo Lý và Việt Ngữ của giáo xứ, rất nhiệt tình, không vắng mặt một buổi học nào.  Em tham gia ca đoàn, không vắng mặt một buổi lễ nào.  Khi giáo xứ có phát động phong trào cầu nguyện cho ơn thiên triệu, người ta nghĩ đến em.  Em vẫn còn độc thân, thích hợp lắm.  Em có học, điều kiện thuận lợi lắm.

Hôm Ðức Cha về thăm giáo xứ, trong số những người đón Ðức Cha có em.  Thấy em, Ðức Cha bước tới ôm em như là một người quen biết lâu, như là một đứa cháu thân thương.  Em là ai?  Hỏi ra mới biết em là một chủng sinh, đã ở trong chủng viện được ba năm nhưng rồi em đã trở về, sống cuộc sống bình thường để lo cho mình và ... gia đình.  Ơn thiên triệu đã đến nhà em nhưng không ở lại được.  Em đã có ơn kêu gọi nhưng không được ơn bền đổ đến cùng. Buồn!

Cầu cho có ơn thiên triệu, ta cũng nên nhớ cầu nguyện cho những người đã có ơn thiên triệu được ơn bền đổ đến cùng!

Nguyễn Ngọc Sáng

(*): Sau này, chủng sinh Sài Gòn chuyển sang mặc "đồ tây", quần trắng áo sơ mi trắng, chớ trước đó, đi đâu là mặc quần dài trắng hay đen và áo dài đen.  Khi còn đi học, mỗi lần "đi dạo", từ trong Chủng Viện đi ra từng toán những người mặc áo dài đen, người đi đường thấy vậy thường hay chỉ nhau nói: les corbeaux (những con quạ). Khi mặc quần áo trắng đi hàng hàng lớp lớp thì người ta lại gọi là les cigognes (những con cò trắng).

Thư Hàng Tháng

Để nhận được những tin tức của Truyền Thông, xin hay ghi danh:

Liên Lạc Toà Báo

  • Tel. (562) 424-2041

Nối Kết

   

youtubetvastm

Bạn đang ở: Home Toà Báo Thơ Văn và Học Hỏi Ơn bền đỗ