
18. NGƯỜI THẦY
GIÁO DA ĐEN
Năm 1917, tại một xóm nghèo
bang Mít-xi-xíp-pi ( Mississipi ) Hoa-kỳ, một toán người da
trắng quá khích đã bủa vây bắt trói một thanh niên da đen vì
nghi ngờ anh đang diễn thuyết kêu gọi đồng bào anh nổi loạn
chống lại họ. Anh ta tên là Lô-renx ( Lawrence ).
Anh bị lôi đến một gốc cây, tròng dây thòng lọng vào cổ,
dưới chân xếp một đống củi to. Đám đông ra lệnh cho anh được
nói những lời cuối cùng trước khi chết... Lô-renx thầm cầu
nguyện với Chúa, rồi sau đó hiên ngang lên tiếng lậùp lại
tất cả những gì anh đã diễn thuyết trước đó cho người da
đen. Anh bắt đầu bằng cách phác họa cảnh sống của hai dân
tộc anh em da đen và da trắng trong sự tương trợ đoàn kết.
Anh ngỏ ý sẽ tổ chức một ngôi trường để dạy cho đồng bào anh
để họ xứng đáng sống bên cạnh người da trắng. Từ đó, hai bên
sẽ dễ dàng hiểu biết và giúp đỡ nhau. Anh nêu tên một số
người da trắng có uy tín trong vùng đã hứa tài trợ cho anh.
Anh còn khéo léo nói vài câu duyên dáng làm cho đám đông bật
cười. Cuối cùng, anh khẳng định: anh đấu tranh với sự dốt
nát mù chữ và chống lại sự nghèo nàn lạc hậu, chứ không hề
có ác ý với ai cả.
Anh vừa dứt lời, đám đông mới đây còn đòi giết anh, giờ đây
lại hò reo hoan hô anh nhiệt liệt, ùa nhau đến tháo giây
thòng lọng và công kênh anh lên. Lại có người đứng ra kêu
gọi mọi người hãy giúp đỡ anh. Thế là người ta có bao nhiêu
tiền đều móc ra, ném như mưa xuống dưới chân anh da đen
nghèo xác xơ nhưng giàu thiện chí và hảo tâm...
Sinh ra ở miền Bắc Hoa-kỳ, Lô-renx là con một bác thợ hớt
tóc, được gia đình dành dụm nuôi ăn học đến hết bậc đại học.
Ra đời, anh có thể tìm được việc ngay và có một đời sống
sung túc nơi quê nhà, thế nhưng, cảnh cơ cực lam lũ của
những đồng bào da đen đã thôi thúc anh bỏ tất cả để lưu lạc
xuống miền Nam xin một chân thầy giáo làng cho người da đen.
Chính ở đây, anh hiểu được nguyên nhân mọi khốn cùng người
da đen phải gánh chịu là ở chỗ: đã dốt nát mù chữ mà lại còn
mê tín dị đoan, và trắng tay, không biết một thứ nghề nào,
từ đó họ lại càng bị người da trắng khinh bị đầy đọa. Ban
ngày, Lô-renx vất vả dạy học, tối đến, anh tự học thêm nghề
trồng trọt, chuẩn bị cho ước mơ sẽ truyền nghề lại cho đồng
bào.
Mùa xuân năm 1909, vừa tròn 24 tuổi, Lô-renx khăn gói tìm
tới khu xóm Brátx-tân ( Braston ) có đông người da đen, dự
định chọn nơi đây để mở trường. Anh đi tìm những người trại
chủ da trắng để xin phép mở trường dạy nghề trồng trọt cho
người da đen. Họ chả mấy tin tưởng vào lập luận của anh,
nhưng họ cũng không có ý ngăn cản làm gì.
Sau đó, anh lại đi vận động những người da đen chịu gom góp
mỗi người một chút để có thể dựng trường. Họ vui mừng hy
vọng lắm, nhưng vì nơi đây vừa mới bị mất mùa do nạn côn
trùng tàn phá, họ lại quá nghèo nên chẳng góp được gì đáng
kể. Nhưng Lo-ren-xơ nhất quyết không chịu bó tay...
Một hôm, anh cầm theo cuốn Kinh Thánh, tìm ra ven rừng thanh
vắng ngồi một mình dưới bóng một cây cổ thụ. Đang mải mê suy
tư cầu nguyện, anh chợt bắt gặp một em bé da đen đang rụt rè
nhìn anh từ xa. Anh gọi: “Nào em bé, lại đây chơi với anh đi
!” Đứa bé tiến lại, nó thấy anh có cuốn sách đẹp thì mượn và
cũng bắt chước cầm lên đọc chăm chú ra vẻ biết chữ. Lô-renx
phì cười khi thấy em cầm ngược đầu cuốn sách, anh vỗ vai em
hỏi: “Chắc em thích đọc sách lắm phải không ? Vậy thì mai em
hãy trở lại đây, anh sẽ bắt đầu dạy cho em biết dọc biết
viết nhé !”
Hôm sau trở lại gốc cây, Lô-renx đã thấy em bé có mặt cùng
với hai đứa nữa. Thế là ngôi trường đã khai giảng ngay dưới
tán cây ven rừng với 3 trò nhỏ đầu tiên, hiệu trưởng kiêm
thầy giáo duy nhất chính là Lô-renx, và giáo án là cuốn Kinh
Thánh ! Anh chọn bài giảng và tập đọc đầu tiên là một đoạn
Lời Chúa nói về tình yêu thương.
Được một lúc, anh nhìn quanh đã thấy một số người lớn da đen
lấp ló ở các bụi cây gần đó, mải mê theo dõi như uống lấy
từng lời giảng dạy giáo lý của anh. Thế là anh mời tất cả
cùng ngồi vào để tập đọc đoạn văn được viết nắn nót trên tấm
ván cũ. Sĩ số lớp học giờ đây gồm 5 trẻ em và 7 người lớn.
Ngày lại ngày, tiếng đồn lan ra, Lô-renx thu nhận được hơn
50 học sinh. Mùa đông về, lớp học dời vào một căn nhà cũ nát
bỏ hoang. Người trại chủ tốt bụng biết chuyện, tặng luôn cho
anh căn nhà cùng với 16 mẫu đất bỏ hoang chung quanh và số
tiền 50 đô-la. Các học sinh lớn xúm lại sửa chữa vách và mái
nhà, làm lò sưởi và quét vôi. Anh lại tìm đến một trại chủ
khác xin được một số lớn gỗ ván và mua chịu các vật dụng cần
thiết cho ngôi trường.
Năm 1917, thoát được vụ hành quyết oan uổng như đã kể từ
đầu, anh tạ ơn Chúa rồi lại quyết định mở một cuộc họp, mời
tất cả những người da đen cùng các ân nhân người da trắng
trong vùng đến nghe anh nói chuyện về dự kiến tương lai. Anh
cho biết đây sẽ là ngôi trường nội trú cho các học sinh ở
rải rác khá xa. Các em sẽ vừa học vừa làm để tự nuôi sống
bằng việc canh tác khu đất quanh đây. Anh cũng xin mọi người
có mặt đóng góp thêm để xây dựng một dãy lớp học mới vì sĩ
số học sinh đã quá cao.
Vừa dứt lời, các ân nhân đã trao ngay cho anh một số tiền
khá lớn, còn đồng bào da đen thì góp chung từng đồng xu lẻ
dành dụm chắt bóp. Có người còn hứa tặng một phần hoa lợi vụ
mùa sắp tới, người khác về nhà mang tới một bao bông vải
hoặc nửa con lợn, một cặp ngỗng... và hầu hết đều hứa sẽ
giúp công góp sức. Thế là hôm sau, cả đoàn những người đàn
ông trai tráng kéo đến đốn cây, xẻ ván, dậm nền, dựng cột,
xây vách. Phía các bà các cô thì buổi trưa mang cơm nước đến
cho cánh thợ.
Qua năm 1910 thì ngôi trường hoàn tất, mang tên là “Ngôi
Trường Thôn Quê”, cùng với số cả trăm học sinh tại chỗ còn
có thêm 18 em từ xa về nội trú. Tất cả được học chữ, nấu
bếp, cắt may và nghề mộc. Buổi tối, lớp xóa mù chữ có gần
100 em nhỏ. Mọi học sinh đều mang tới góp, người thì bao bột
mì, người thì chú heo con để sử dụng chung thay vì đóng học
phí và tiền ăn. Lô-renx cũng mời được một số thầy cô giáo
thiện chí đến giúp. Anh thường nhắc họ luôn cầu nguyện trong
niềm chắc tin rằng mọi sự đều do Chúa ban và lo liệu, nhưng
phần mình vẫn phải nỗ lực làm việc để cộng tác với Người...
Năm 1912, Lô-renx cưới vợ, cả hai vừa gắng công dạy học, lại
vừa đi khắp nơi xin các mạnh thường quân hỗ trợ để trả lương
giáo viên và nuôi sống các học trò nghèo. Anh chị hễ cứ gặp
những trẻ bơ vơ lang thang là lại dắt về nuôi ăn và cho học
hành tử tế. Đặc biệt có một em 14 tuổi sống như thú hoang
trong rừng, đã được Lô-renx tìm thấy đem về trường. 8 năm
sau, cậu thi đỗ tốt nghiệp trung cấp hướng nghiệp, và trong
ngày nhận bằng, cử tọa đã say mê nghe cậu thuyết trình về
điện và các loại động cơ. Lại còn gia đình anh Cô-linx (
Collins ) cùng bầy con 12 đứa nheo nhóc được nhận vào
trường, 12 năm sau, ông bố Cô-linx cũng cùng lên nhận bằng
với vợ con.
Tính đến năm 1953, trường đã đào tạo được 1.700 học sinh đậu
tú tài và 325 người tốt nghiệp đại học. Không ít những học
viên giờ đây là trại chủ, dược sư, giáo sư, nhạc sĩ, ca sĩ,
sĩ quan, linh mục và mục sư. Có người học tiếp để lấy bằng
tiến sĩ ở đại học Chi-ca-gô ( Chicago ). Năm 1960, trường có
sĩ số 500 em với 40 thầy dạy, 650 mẫu đất sở hữu cùng với
những dãy lớp khang trang, những vườn cây ăn trái và hoa
màu, cả những xí nghiệp chế tạo bơ, sữa tươi và những cơ
xưởng hướng nghiệp được trang bị tối tân.
Nhà cầm quyền bang Mít-xi-xíp-pi cuối cùng cũng đã nhìn ra
công lao hy sinh tận tụy và lòng yêu thương vô hạn đối với
đồng bào da đen khốn khổ của ông Lô-renx. Họ chính thức trao
tặng ông tước hiệu “Công Dân Số Một của Bang Mít-xi-xíp-pi”.
Sau khi ông qua đời, mới đây không lâu, người ta đã dựng
tượng để ghi nhớ một tấm lòng vị tha cao quý. Tượng đài ghi
hàng chữ: “Ông Giôn Lô-renx ( John Lawrence ), một người con
ngoan của Chúa, một thầy giáo tận tụy và một người bạn thân
thương nhất của mọi người...”
Từ tạp chí TIN VUI, 1974.
