                |
|
|

05.
MẸ TÊ-RÊ-XA THÀNH CAN-QUÝT-TA
Mẹ Tê-rê-xa tên thật là A-nhétx
Bô-giát-xiu ( Agnès Bojaxhiu ), sinh năm 1910, gốc người An-ba-ni
( Albanie ). Từ khi còn là thiếu nữ, Mẹ đã xin vào tu dòng Thánh
Lo-rét-ta ( Loreeta ) năm 1928 rồi xin sang phục vụ việc dạy học
tại Ấn-độ năm 1929 với tên gọi trong Dòng là Ma-ri-a Tê-rê-xa.
Đến năm 1949, Mẹ xin ra khỏi Dòng Lo-rét-ta để chuyên lo cho
những người cùng khổ Ấn-độ. Năm 1950, Mẹ sáng lập Hội Dòng Thừa
Sai Bác Ái ( Missionnaires de la Charité ) tại Can-quýt-ta (
Calcutta ). Khởi đầu Ơn Gọi của Mẹ Tê-rê-xa và các chị nữ tu
trong Tu Hội tiên khởi của Mẹ, là dùng một chiếc xe ô-tô cũ kỹ
đã xin được để rảo quanh khắp thành phố, tìm đón những con người
bần cùng đang hấp hối trên các vệ đường, trong các khu nhà ổ
chuột, đưa về một ngôi đền Ấn-độ giáo đã bỏ hoang từ lâu, chính
ở đây, họ đã được chăm nom lo liệu cho đến khi lìa đời.
Mẹ nói: “Có những người, khi sống đã không được sống như một con
người đúng nghĩa, thì hãy giúp họ khi chết được chết như một con
người !”
Hiện nay, Tu Hội mang tên “Những Nhà Truyền Giáo Bác Ái” của Mẹ
Tê-rê-xa đã có được hơn 4000 tu sĩ cùng với hơn 500 Linh Mục và
tu huynh đang phục vụ tại hơn 450 trung tâm của hơn 100 quốc gia
trên thế giới, trong đó có Việt-Nam. Họ xóa nạn mù chữ và dạy
học cho hàng triệu lượt học sinh tại 124 trường học, chăm sóc
được hơn 5 vạn lượt bệnh nhân phong và rất nhiều bệnh nhân SIDA
tại 6 trung tâm lớn. Đó là chưa kể đến biết bao cuộc thăm viếng
những người chịu tù đày, những tổ ấm cho Trẻ Em Đường Phố ( Les
Enfants de la Rue ), và tổng cộng đã có ít là nửa triệu mái ấm
gia đình được Mẹ và Tu Hội nuôi sống và thương yêu.
Mẹ đã nhận được nhiều giải thưởng lớn, trong đó có giải Tem-plơ-tân
( Templeton ) về tiến bộ tôn giáo năm 1973, giải Nô-ben ( Nobel
) Hòa Bình năm 1979, và giải Ấn quốc chi bảo ( Bharat Ratna )
của Ấn-độ năm 1980.
Tuyên ngôn của Mẹ có thể được cô đọng trong đoạn văn sau đây:
“Chúng tôi muốn làm cho những người nghèo nhất trong các người
nghèo hiểu rằng: họ đang được yêu mến... Bởi căn bệnh ghê gờm
nhất không phải là bệnh cùi hủi hay lao phổi, nhưng chính là bị
ném ra ngoài, bị khinh miệt, bị ruồng bỏ. Cái nghèo ray rứt nhất,
không phải là ở cái bụng đói meo, nhưng chính là đã không được
một ai yêu thương, không được ai đợi chờ tiếp đón !” ( Nous
voulons faire sentir aux plus pauvres des pauvres qu’ils sont
aimés... Car la pire des maladies, ce n’est pas d’avoir la lèpre
ou la tuberculose, c’est d’être rejeté, méprisé, délaissé. La
plus grande pauvreté, ce n’est pas d’avoir le ventre vide, c’est
de n’être aimé, ni désiré par personne ! ).
Mẹ thường nhắc nhở các chị em trong Dòng: “Khi chúng ta trợ giúp
tha nhân, thì phần thưởng chúng ta nhận được là sự an bình và
niềm vui, bởi vì chúng ta đã làm cho đời sống mình có ý nghĩa !”
Đối với các bạn trẻ, Mẹ dặn dò: “Các con có trách vụ to lớn phải
xây dựng hòa bình, bắt đầu từ trong gia đình của mỗi người, và
các con còn có trách vụ bênh vực sự sống luôn luôn và ở khắp mọi
nơi, nhất là sự sống của những kẻ yếu đuối !”
Dưới đây là một trong những lời cầu nguyện của Mẹ dành cho một
người đang hấp hối ( Pour un mourant ), phỏng dịch từ tập sách
nhỏ PRIER AVEC MÈRE TERESA, xuất bản năm 1994:
Ôi lạy Chúa Giê-su, Chúa là Đấng thông biết mọi sự: sự sống cũng như sự chết, Chúng con nài xin Chúa: hãy tha thứ mọi tội lỗi
Cho người bạn của chúng con đây đang sắp chia tay với chúng con. Xin hãy ban cho người này một trái tim đã được thanh luyện tinh
tuyền. Chúa đã quá rõ: Có biết bao con người,
Có đến hàng chục nghìn con người đang hấp hối, Mà chúng con đã chăm nom săn sóc. Và Chúa cũng đã biết: Không một người nào trong số ấy
Phải đau đớn sợ hãi sau khi đã xưng thú các tội lỗi của mình, Và họ đã nhận được Ơn Tha Thứ. Xin Chúa cho người bạn của chúng con đây, Một khi đã giã biệt chúng con,
Họ cũng được ra đi trong bình an. Và, với một trái tim đã được thanh tẩy, Chúng con tin chắc rằng người bạn này
Sẽ được vui hưởng hạnh phúc với Chúa trong Nước Trời, Cho đến muôn đời muôn thuở. A-men.
Mẹ Tê-rê-xa thành Can-quýt-ta đã mất vì một cơn đau tim ngày
5.9.1997 và được chính phủ và đất nước Ấn-độ tổ chức lễ quốc
táng hết sức trọng thể. Thay vì phải chờ đợi đủ 5 năm, Tòa Thánh
đã cho tiến hành mở án phong Chân Phước và phong Thánh vào ngày
26.7.1999 dưới quyền Tổng Giám Mục Can-quýt-ta, đức cha Hen-ri
đờ Xu-da ( Henry d’Souza ).

|
|